Heredford — mua hoặc bán

Heredford
Lịch sử giống bò Hereford. Máu của giống bò này chảy trong huyết quản của nhiều giống khác. Chúng được gọi là bò không có khuyết điểm. Đây là một trong những giống bò lớn cổ xưa và phổ biến nhất. Tên giống được đặt theo nguyên tắc địa lý. Chúng lần đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 18 tại hạt Herefordshire, Anh, giáp với xứ Wales. Trước đó, ở các vùng phía nam và phía tây nước Anh, người ta nuôi bò đỏ không lớn, và đặc điểm của vùng nông thôn là bò biên giới xứ Wales, những con bò đen có kích thước ấn tượng. Chính những con bò đỏ và bò xứ Wales đã trở thành tổ tiên của giống bò Hereford. Người xứ Wales cho năng suất sữa tốt mặc dù chúng chăn thả trong điều kiện khắc nghiệt ở vùng núi với thảm thực vật nghèo nàn, nhờ đó mà chúng có sức bền. Việc cải thiện giống bò được hướng tới việc làm cho động vật mạnh mẽ hơn và sử dụng chúng không chỉ như nguồn thịt mà còn như sức kéo. Tại hạt Herefordshire, vào năm 1738, Benjamin Tomkins lớn đã bắt đầu chăn nuôi bò Hereford thương mại. Do đó, ông được coi là người sáng lập giống này. Năm 1817, bò Hereford lần đầu tiên được xuất khẩu sang Mỹ. Từ đầu thế kỷ 20, bò Hereford đã lan rộng ra toàn thế giới, các nhà chọn giống liên tục làm việc để cải thiện giống, đặc biệt chú trọng đến cấu trúc và khối lượng cơ bắp. Ngoại hình. Bộ lông màu đỏ sẫm với sắc thái màu anh đào, nhưng đầu, cổ, bả vai, bụng, phần dưới của chân và đuôi có màu trắng. Đây là đặc điểm điển hình của bò Hereford, mà tất cả các thế hệ sau đều thừa hưởng. Thân hình điển hình cho tất cả các giống bò thịt. Động vật có thân hình hình tròn, rộng và sâu, vai nở, lưng và thắt lưng đầy đặn, mông rộng và thẳng với cơ bắp phát triển tốt. Bụng dưới nhô ra rõ rệt. Chiều cao trung bình 125 cm. Độ sâu ngực 72 cm. Chu vi ngực 197 cm. Chiều dài thân chéo 153 cm. Vào mùa hè, bộ lông ngắn, còn vào mùa đông thì dài ra. Da đàn hồi, gương mũi màu hồng nhạt. Các đặc điểm về sữa không rõ ràng. Sừng thẳng hoặc hướng xuống dưới, màu sáng với phần tối hơn gần đầu sừng. Cũng có loại bò không sừng. Trọng lượng trung bình của bò đực trưởng thành từ 800-1300 kg, bò cái từ 450-600 kg, nhưng đôi khi có thể đạt tới 800 kg. Tuổi lần đầu sinh sản từ 24-30 tháng. Cũng có bò cái sinh đôi. Điều kiện nuôi dưỡng. Phương án tốt nhất cho bò Hereford là chăn thả không ràng buộc trên đồng cỏ. Nhưng thường thì cũng thực hiện nuôi nhốt và chăn thả. Bò Hereford có khả năng chịu lạnh và thích nghi với mọi điều kiện cả bên ngoài lẫn trong chuồng, vì vậy không cần phải sưởi ấm trong nhà.

Đăng nhập để biết thêm

Đăng nhập

Nên cho ăn gì

Chế độ ăn. Trong chế độ ăn bao gồm cỏ khô, bã, thỉnh thoảng có thể đãi chúng bằng yến mạch. Chúng không kén chọn đến mức có thể chỉ ăn rơm. Giống này thích nghi với các đồng cỏ khác nhau và phát triển tốt với 1 kg tăng trọng, bê thịt Hereford tiêu tốn 5,3-6,2 đơn vị thức ăn. Trên cánh đồng, Hereford có khả năng ăn bất kỳ loại cỏ nào, bao gồm cả cỏ thô và cỏ dại cứng. Điều này không ảnh hưởng đến chất lượng thịt, vì vậy trong thời gian từ mùa xuân đến mùa thu, cơ sở của chế độ ăn là cỏ xanh. Nói chung, chúng ăn mọi thứ. Thịt thu được từ việc nuôi trên đồng cỏ có hương vị ngon hơn, tự nhiên hơn và vi khuẩn trong dạ cỏ và các phần khác của dạ dày hoạt động đúng cách nhờ vào chế độ ăn từ cỏ. Những người chăn nuôi lưu ý rằng Hereford không kén chọn đến mức có thể sống chỉ bằng cỏ khô, nhưng đó là trường hợp cực đoan. Nói chung, trong chế độ ăn của gia súc, tùy thuộc vào mùa, có cỏ khô, cỏ ủ, bã, ngũ cốc và đôi khi là yến mạch. Động vật tăng cân nhanh chóng chủ yếu nhờ vào thức ăn có nguồn gốc từ cỏ, bê được cho ăn cỏ đậu và cỏ ngũ cốc. Nhiều người lưu ý rằng điều kiện chăn thả đủ cho gia súc để có chế độ dinh dưỡng đầy đủ và Hereford không cần bổ sung, nhưng mỗi người chăn nuôi thực hành theo cách riêng của mình, vì vậy trong chế độ ăn cũng có thức ăn tinh chế dạng thô, bột xương, củ quả, đặc biệt là củ cải (bã) và các phụ gia khoáng và phốt pho.

Thông số vật lý

Cân nặng đực: 125–145 kg
Cân nặng (con cái): 114–135 kg
Chiều cao (con đực): 800–1300 cm
Chiều cao (con cái): 450–600 cm

Phạm vi sinh sống

Afghanistan Ai Cập Albania Algeria Andorra Angola Anguilla Antigua và Barbuda Argentina Armenia Aruba Australia Azerbaijan Ba Lan Bahamas Bahrain Bangladesh Barbados Belarus Belize Benin Bermuda Bhutan Bolivia Bosnia và Herzegovina Botswana Brazil Brunei Bulgaria Burkina Faso Burundi Bắc Macedonia Bỉ Bồ Đào Nha Ca-ri-bê Hà Lan Cameroon Campuchia Canada Cape Verde Chad Chile Colombia Comoros Congo - Brazzaville Congo - Kinshasa Costa Rica Croatia Cuba Curaçao Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất Côte d’Ivoire Cộng hòa Dominica Cộng hòa Trung Phi Djibouti Dominica Ecuador El Salvador Estonia Eswatini Ethiopia Fiji Gabon Gambia Georgia Ghana Gibraltar Greenland Grenada Guadeloupe Guam Guatemala Guernsey Guiana thuộc Pháp Guinea Guinea Xích Đạo Guinea-Bissau Guyana Haiti Hoa Kỳ Honduras Hungary Hy Lạp Hà Lan Hàn Quốc Iceland Indonesia Iran Iraq Ireland Israel Italy Jamaica Jersey Jordan Kazakhstan Kenya Kiribati Kosovo Kuwait Kyrgyzstan Latvia Lesotho Li-băng Liberia Libya Liechtenstein Litva Luxembourg Lào Lãnh thổ Palestine Ma-rốc Madagascar Malawi Malaysia Maldives Mali Malta Martinique Mauritania Mauritius Mayotte Mexico Micronesia Moldova Monaco Montenegro Mozambique Myanmar (Miến Điện) Mông Cổ Na Uy Nam Phi Nam Sudan Namibia Nauru Nepal New Caledonia New Zealand Nga Nhật Bản Nicaragua Niger Nigeria Oman Pakistan Palau Panama Papua New Guinea Paraguay Peru Philippines Pháp Phần Lan Polynesia thuộc Pháp Puerto Rico Qatar Quần đảo Bắc Mariana Quần đảo Cayman Quần đảo Cook Quần đảo Faroe Quần đảo Marshall Quần đảo Solomon Quần đảo Turks và Caicos Quần đảo Virgin thuộc Anh Quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ Quần đảo Åland Romania Rwanda Réunion Samoa Samoa thuộc Mỹ San Marino Senegal Serbia Seychelles Sierra Leone Singapore Sint Maarten Slovakia Slovenia Somalia Sri Lanka St. Kitts và Nevis St. Lucia St. Martin St. Vincent và Grenadines Sudan Suriname Syria São Tomé và Príncipe Séc Síp Tajikistan Tanzania Thái Lan Thổ Nhĩ Kỳ Thụy Sĩ Thụy Điển Timor-Leste Togo Tonga Trinidad và Tobago Triều Tiên Trung Quốc Tunisia Turkmenistan Tuvalu Tây Ban Nha Tây Sahara Uganda Ukraina Uruguay Uzbekistan Vanuatu Venezuela Việt Nam Vương quốc Anh Wallis và Futuna Yemen Zambia Zimbabwe Áo Đan Mạch Đài Loan Đảo Man Đặc khu Hành chính Hồng Kông, Trung Quốc Đặc khu Hành chính Macao, Trung Quốc Đức Ả Rập Xê-út Ấn Độ

Câu hỏi thường gặp

Heredford nặng bao nhiêu?
Con trưởng thành: đực — 125–145 kg, cái — 114–135 kg.
Heredford cao bao nhiêu?
Chiều cao ở vai: đực — 800–1300 cm, cái — 450–600 cm.
Heredford có nguồn gốc từ đâu?
Quốc gia xuất xứ — Vương quốc Anh.
Heredford được nuôi ở đâu?
Giống này phổ biến ở: Afghanistan, Ai Cập, Albania, Algeria, Andorra, Angola, Anguilla, Antigua và Barbuda.
Nên cho Heredford ăn gì?
Chế độ ăn.

Chưa có câu hỏi nào. Hãy đặt câu hỏi đầu tiên!

Tin rao trong khu vực của bạn